• Yếu tố Nghệ thuật biểu diễn hát văn  

     

    Hát văn là một hình thức sinh hoạt âm nhạc đặc sắc không thể thiếu trong các nghi thức của đạo Tứ phủ, trong sinh hoạt tín ngưỡng, các lễ của đệ tử cũng như các thầy đồng đền (1). Hát văn còn gọi là chầu văn, gồm những bài hát chầu Thánh. Hát văn cổ truyền bao gồm 3 yếu tố cấu thành: đàn, hát và múa (2). Tuy là một phần không thể thiếu của sinh hoạt tín ngưỡng nhưng hát văn vẫn mang sắc thái dân gian rõ nét, vì thế, nó rất gần gũi và có sức lôi cuốn mạnh mẽ đông đảo quần chúng nhân dân. Hát văn được tổ chức có bài bản và mang tính chuyên nghiệp cao. Tính chuyên nghiệp trong hát văn được thể hiện ở một số khía cạnh sau: 

    Sự chuẩn bị công phu

    Để có một buổi lên đồng, bản thân bà đồng trước đó cũng phải làm “thanh sạch” bản thân bằng cách: kiêng gần gũi với người khác giới, phải ăn chay, thậm chí nhịn ăn (3). Thời gian tổ chức được chọn là ngày tốt, giờ thiêng. Địa điểm ở đền, phủ hoặc tư gia... là nơi thoáng mát, ánh sáng vừa đủ tạo cho người tham dự cảm thấy thanh thản và linh thiêng.Trang phục và đạo cụ phục vụ cho bà đồng được chuẩn bị chu đáo và sắp xếp theo từng giá đồng. Đồ tế lễ như nhang, hoa quả, tiền lẻ, hàng mã… được chuẩn bị đầy đủ và kỹ càng từ nhiều ngày trước. Cung văn (4) kiểm tra đàn, trống, phách... cẩn thận, người hát phải nghỉ ngơi, luyện giọng để hát được chuẩn và truyền cảm. 

    Phân công công việc cụ thể

    Trong buổi lên đồng, phục vụ cho bà đồng làm lễ, 4 phía có 4 người hầu dâng (tứ trụ) thường thì 2 nam 2 nữ. 2 nam ngồi bên phải và trái gần bàn thờ. Người bên phải lo việc trang phục, người bên trái lo việc dâng nhang, rượu, chè… 2 nữ ngồi bên phải và trái sau bà đồng. Người bên phải giúp việc sửa sang trang phục và đồ lễ tiến. Người bên trái giúp việc phát lộc cho con nhang, đệ tử ngồi gần khi bà đồng ra lệnh. Phía ngoài còn có nhiều người phụ tá đảm nhận các khâu như: chuẩn bị hàng mã để tế dâng, hóa vàng, phát lộc cho các con nhang. Những người tham dự ngồi ở xa hoặc pha trà, rót rượu…

     Trang phục

    Trang phục trong hát văn phong phú và đa dạng với những đường nét may vá, thêu ren… tỉ mỉ và công phu. Tuy vậy, trang phục được quy định rất chặt chẽ, phù hợp theo từng giá và giới tính, tính cách của từng vị thần linh. Trang phục có 4 màu sắc cơ bản: đỏ, xanh, trắng và vàng.

    Màu đỏ là trang phục của Mẫu Thượng Thiên và ngôi thứ nhất gồm các vị: chầu đệ nhất, quan lớn đệ nhất…

    Màu xanh là trang phục của Mẫu Thượng Ngàn và ngôi thứ hai gồm các vị: chầu đệ nhị, quan lớn đệ nhị…

    Màu trắng là trang phục của Mẫu Thoải và ngôi thứ ba gồm các vị: chầu đệ tam, quan lớn đệ tam…

    Màu vàng là trang phục của Mẫu Địa và ngôi thứ tư gồm các vị: chầu đệ tứ, quan lớn đệ tứ…(5)

    Với các vị Thánh hàng quan, trang phục còn có thêm cờ lệnh, cung, kiếm… thể hiện sự uy nghi, mạnh mẽ vì các Thánh này đều thuộc võ quan. Cô Sáu thuộc phủ Thượng Ngàn (tục truyền cô là người dân tộc Nùng) trang phục là quần áo chàm, đeo túi hoa, tóc cài hoa rừng… 

    Kết cấu chương trình, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhạc, ca và múa

    Hát văn phục vụ tín ngưỡng được quy định chặt chẽ về mặt làn điệu, nội dung, hình thức trình diễn. Nó phải phù hợp với nội dung, tính chất của buổi lễ hoặc tính chất của vị Thánh được thỉnh đến trong buổi lễ đó. Thường buổi lễ diễn ra từ 2 đến 4 giờ liên tục (hoặc lâu hơn) tùy thuộc vào các vị Thánh nhập lâu hay mau, nhưng không vì thế mà ảnh hưởng đến kết cấu chương trình buổi lễ. Việc nhập đồng các vị Thánh cũng phải theo thứ tự, từ các vị Thánh mẫu rồi tới các hàng quan, hàng chầu, các ông hoàng rồi hàng cô hàng cậu…

    Mở đầu là giá giáng đồng của các vị Thánh Mẫu. Nếu vị nào giáng thì bà đồng ra hiệu cho cung văn cất lên bài hát phù hợp. Bản thân mỗi giá văn (6) đã có cấu trúc riêng biệt rất hợp lý về lời văn, làn điệu cũng như tiết tấu.

    Ví dụ trong giá văn Mẫu Thoải (Mẫu đệ tam) là 1 liên khúc các làn điệu: bỉ, miễu, thổng, phú bình, phú chênh, phú dầu, phú nói, phú vân, vãn, kiều dương, cờn, dồn đại thạch (7).

    Mở đầu giá bằng điệu bỉ mang tính chất ngâm ngợi, nhịp tự do, có tính chất giới thiệu, bao quát chung cho giá đồng:

    Anh linh lừng lẫy chốn giang khê,

    Nức tiếng con vua dưới Thủy tề…

    Tiếp sang miễu, tính chất tôn nghiêm, nhịp đôi, tạo cho người nghe có cảm giác linh thiêng, thần linh nhập đồng:

    …Con vua thủy quốc động đình,

    Có tiên thần nữ giáng sinh đền đồng…

    Điệu thổng trong sáng, nhịp 3, tính chất âm nhạc thay đổi, tiết tấu nhanh:

    …Cho hai người duyên phận sánh nhau

    Chúa từ kết nghĩa trần châu…

    Phú bình thì chững chạc, khúc triết hơn:

    …Tưởng bề phu phụ xót xa muôn phần

    Có phen trách lương quân bội bạc…

    Phú chênh, nghe chênh vênh:

    …Văn tú tài Liễu Nghị là tên

    Trẻ thơ nhờ ấm thung huyên…

    Phú dầu, sau các điệu thổng, phú bình, phú chênh có tiếu tấu nhanh, giờ đây tính chất âm nhạc chuyển sang chậm, buồn tạo cho người nghe có nhiều xúc cảm khác nhau:

    …Nỉ non tấm tức khóc than một mình

    Chàng trông thấy tâm tình cảm kích…

    Phú nói, không gian sâu lắng hơn:

    …Duyên sự này thiếp há đơn sai

    Chẳng rằng hẳn được như lời…

    Phú rầu , âm nhạc thể hiện tính chất thành kính, nhịp tự do:

    …Nữ tiên thủ bút

    Bái tạ Long cung

    Lạy vua cha chính ngự ngai rồng…

    Vãn, không gian buồn bã, nhớ nhung:

    …Dặn chàng ra mãi bể Đông

    Tới đâu hễ thấy ngô đồng cây cao…

    Kiều dương, âm nhạc bỗng đột nhiên thay đổi thành mạnh mẽ, cường tráng:

    …Tới ngô đồng tay gõ vừa thôi

    Tự nhiên nổi trận phong lôi…

    Cờn, nét nhạc duyên dáng, nhẹ nhàng:

    …Chàng từ vâng lệnh thiên nhan

    Duyên ưa phận đẹp, chức ban trọng già…

    Dồn đại thạch, không khí kết thúc, rộn ràng, đây là điệu để kết giá văn Mẫu Thoải:

    …Mẫu về trắc giáng điện trung

    Cuông phù đệ tử hưng long thọ tường. 

    Tính dân gian - xã hội hóa

    Hát văn luôn tiếp thu những yếu tố dân ca đặc trưng của từng vùng, miền, địa phương như trống quân, quan họ, ca trù, hò Huế, cờn Huế, cải lương… Chính điều đó tạo cho hát văn bám rễ sâu vào văn hóa của từng vùng miền, làm cho người dân cảm thấy gần gũi, được chia sẻ.

    Trong buổi hầu đồng, khoảng cách giữa người diễn tấu và người thưởng thức được thu hẹp. Khán giả (đệ tử, con nhang, người tham dự) được đắm mình, say mê theo những điệu múa, lời hát, nhịp đàn trống của người diễn (bà đồng, người hát, ban văn). Có những lúc họ còn “thăng hoa” hò theo (chèo đò trong giá văn cô Ba Thoải) hay vỗ tay theo nhịp múa (dồn đại thạch trong giá văn Mẫu đệ tam).

    Một khía cạnh nữa mà chúng tôi xin mạnh dạn đề cập tới, phải chăng hát văn tiếp tục được tồn tại một phần nhờ hình thức “xã hội hóa”? Ở đây rõ ràng là có nhu cầu và nguyện vọng thực sự của phần không nhỏ dân chúng (khán giả). Họ “nhờ cậy” các bà đồng và “ekip” giúp cho họ được thỏa mãn. Còn người diễn (bà đồng, người hát, ban văn) được “tán thưởng” và được nhận những “thù lao” xứng đáng với công sức “lao động nghệ thuật” nghiêm túc của họ.

    _______________

    1. Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật, Phạm Văn Ty, Tô Đông Hải, Hát văn, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà nội, 1992, tr.46.

    2, 5. Phạm Trọng Toàn, Bước đầu tìm hiểu về văn hóa hát văn, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 12 (222), 2002, tr.82, 85.

    3. Xem thêm Ngô Đức Thịnh, Lên đồng - hành trình của Thần linh và thân phận, Nxb Trẻ, TP.HCM, 2007, tr.11-12.

    4. Cung văn chỉ những người đàn, hát phục vụ cho buổi lễ. Xem Phạm Trọng Toàn, bđd, tr.83-84.

    6. Giá văn: những bài văn được dùng trong 1 giá đồng (mỗi lần thần linh từ khi nhập cho đến lúc xuất đồng được gọi là 1 giá).

    7. Xem thêm Ngô đức Thịnh, Đạo Mẫu ở Việt Nam (tập 2), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1996, tr.34-40.


    Tác giả: Nguyễn Xuân Thủy







    Ý kiến của bạn






    Tin bài cùng loại


    |mantico|

    • Yahoo :

       

      Phone : 0926919990

     

    Quảng cáo