• Hát văn thờ trong lễ thượng nguyên  

     


    Vào một buổi sáng đầu Xuân Mậu Tý (2008), khi không khí Tết còn tràn ngập mỗi gia đình, theo chân các cung văn chúng tôi có dịp tới phủ Tây Hồ để tham dự buổi lễ quan trọng trong năm đó là lễ Thượng Nguyên. Cái rét buốt đến thấu da thấu thịt của buổi sáng sớm cũng không ngăn cản được bước chân các cung văn dù trong họ đã có người ngoài 80 tuổi. Đường vào phủ hãy còn vắng lặng vì chưa có người tới lễ, chỉ thấp thoáng ánh đèn của các quán bắt đầu lục đục mở hàng để chuẩn bị cho một ngày mới nhộn nhịp.

    Phủ Tây Hồ là một trong những nơi thờ tự thiêng liêng của Mẫu Liễu Hạnh - một trong Tứ bất tử của người Việt, vị thánh quyền uy của tín ngưỡng Tứ phủ. Sự tích kể lại rằng: Liễu Hạnh vốn là Quỳnh Hoa công chúa con gái Ngọc Hoàng, do đánh rơi chén ngọc bị giáng xuống trần, đầu thai làm nàng Giáng Tiên - con gái thường dân Lê Thái Công ở làng An Thái, xã Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định vào năm 1557. Lớn lên, nàng có nhan sắc tuyệt trần lại giỏi thi ca, lấy chồng và sinh được một trai một gái. Đến năm 21 tuổi, vào giờ Dần mùng Ba tháng Thìn, hết hạn đày nàng trở về trời. Do nhớ gia đình ở trần gian, nên nàng xin Ngọc Hoàng cho giáng trần lần thứ hai. Nàng về thăm cha mẹ, chồng con và khi họ mất, nàng đi mây về gió, hóa phép để đùa cợt với người đời. Vào Nghệ An kết duyên với một thư sinh (là hậu sinh của chồng cũ), sinh con được bốn tuổi thì mất trở về trời. Ở thiên cung, nàng vẫn khao khát cuộc sống trần thế, xin thượng đế cho giáng trần lần thứ ba. Ngọc Hoàng phải chiều ý, cho thêm Chầu Quỳnh, Chầu Quế theo hầu, cùng nàng giáng thẳng xuống Đồi Ngang, Phố Cát, Thanh Hóa. Tại đây, nàng khiến người dân địa phương nể sợ, phải lập đền thờ.

    Tại lần giáng trần thứ hai, chính mảnh đất phủ Tây Hồ đã ghi lại dấu tích cuộc tái ngộ xướng họa thơ văn của Liễu Hạnh công chúa trong vai cô chủ quán tửu lâu Tây Hồ phong nguyệt cùng Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (lần thứ nhất đàm đạo tại xứ Lạng). Ít ngày sau, Trạng Bùng quay lại đã thấy biến mất cả người lẫn quán chỉ còn hồ nước mênh mông. Trạng Bùng đã cho người dựng phủ Tây Hồ để phụng thờ Liễu Hạnh công chúa. Ngày nay, tại phủ Tây Hồ vẫn còn lưu giữ hai câu đối ghi lại điển tích xưa:

    Thi họa Tây Hồ, thần nữ vang lừng ba bảy cõi
    Danh truyền Nam sử, dấu tiên rực rỡ mấy nghìn thu” 

    Phủ Tây Hồ là một tổng thể di tích bao gồm nhiều bộ phận, được kết cấu từ ngoài vào: cổng phủ, nhà chờ, phủ chính, nhà làm việc của ban quản lý, động sơn trang, nhà khách, điện Cô, điện Cậu. Trong đó, phủ chính quay mặt ra Hồ Tây với cấu trúc gồm tòa Tiền tế, tòa Trung tế, và tòa Hậu cung. Tòa tiền tế thờ Cung đồng gồm Tam phủ công đồng, Tứ phủ vạn linh, Hội đồng các quan. Tòa Trung tế liền không gian với tòa Tiền tế. Chính giữa gian là cung Vua cha Ngọc Hoàng, tượng Nam tào, Bắc đẩu ở hai bên. Cung tam tòa Thánh Mẫu đặt sau chỉ có ngai chứ không có tượng. Tòa Hậu cung khép kín bởi các cửa ngăn là nơi đặt tượng của Mẫu Liễu Hạnh. Hậu cung là nơi tôn nghiêm nên nơi cung cấm này thường không mở cửa.

    Tượng Mẫu Liễu Hạnh mặc áo đỏ ở giữa, bên trái là Chầu Quỳnh mặc áo xanh, bên phải là Chầu Quế mặc áo trắng tại Hậu cung

    Hàng năm, ngay từ tháng Giêng âm lịch, khách hành hương về phủ rất đông, vừa đi lễ để Mẫu ban cho điều lành, mọi điều may mắn, vừa thưởng ngoạn cảnh đẹp Tây Hồ. Bởi vậy, để đảm bảo tính thiêng liêng, không quá ồn ào, buổi lễ Thượng Nguyên năm nay tại phủ được bắt đầu từ sớm, khoảng 6 giờ sáng ngày 14 tháng 2 (tức mùng 8 tháng Giêng âm lịch).

    Đối với tín ngưỡng Tứ phủ, một tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu của người Việt, việc cúng bái vào ngày Tứ quý bao gồm lễ Thượng Nguyên (tháng Giêng), Nhập hạ (tháng Tư), Tán hạ (tháng Bảy), Tất niên (tháng Mười hai) là những nghi lễ cúng chính của một năm. Trong đó, lễ Thượng Nguyên là quan trọng nhất vì là lễ trình, lễ cúng đầu tiên mở đầu năm mới. Lễ Nhập hạ để cầu chư thần chư thánh giải bệnh tật cho mùa hè. Lễ Tán hạ để cảm tạ thần linh phù hộ cho ba tháng hè và cầu cho ba tháng mùa thu được yên lành. Lễ Tất niên là lễ tạ, kết thúc của cả một năm. Trong tín ngưỡng Tứ phủ, nghi thức cúng của bốn vấn nhìn chung là giống nhau, riêng trong lễ Thượng Nguyên có cúng sao giải hạn và trong lễ Nhập hạ có cúng Quan ôn quan dịch để giải trừ dịch bệnh vì mùa hè có nhiều bệnh tật nhất trong năm. Trước đây, lễ Thượng Nguyên thường được tổ chức vào đúng Rằm tháng Giêng, nhưng hiện nay do tín ngưỡng Tứ phủ phát triển, các đền các điện nhiều hơn nên mỗi đền chọn lấy một ngày trong tháng (có thể từ mùng 6 tới ngày 20) sao cho không bị trùng giữa các đền để con nhang đệ tử thu xếp mà đến tham dự.


    Những hồi chuông-trống dóng dả vang lên phá tan bầu không gian vắng lặng của buổi sáng cũng để trình báo với trời đất, với thần linh, buổi lễ Thượng Nguyên mở đầu cho năm Mậu Tý của phủ Tây Hồ bắt đầu. Âm thanh vang động của hai nhạc cụ thiêng này như thấu tới tận cửu trùng, ngoài sân phủ bắt đầu lác đác những giọt mưa. Mưa như muốn rửa sạch cửa phủ, rửa sạch đàn tràng, như báo hiệu sự mở đầu tốt lành cho một buổi lễ linh thiêng.

    Chuông và trống được treo ở bên trái trong tòa Trung tế

    Hồi chuông trống vừa dứt, các cung văn với vai trò thầy cúng ngồi trước ban thờ của tòa Tiền tế đã chuẩn bị sẵn sàng cho nghi thức đầu tiên đó là khoa cúng Phật - Mẫu. Người ngồi giữa cũng là người điều khiển toàn bộ buổi cúng gọi là pháp chủ, những người ngồi hai bên gọi là tả già, hữu già hay còn gọi là dây tả, dây hữu. Quy định dây tả và dây hữu được tính cùng hướng với ban thờ nên những người ngồi bên phải lúc này lại là dây tả, còn những người ngồi bên trái là dây hữu.
    Trong tín ngưỡng Tứ phủ có nhiều khoa cúng khác nhau như khoa cúng Phật, khoa cúng Mẫu, khoa cúng Tứ phủ trình đồng (dành cho người bắt đầu xin gia nhập tín ngưỡng Tứ phủ để đi hầu bóng), khoa Tam phủ đối kháng (cúng để xin cắt tình duyên cho người người trần khỏi cõi người âm), khoa Tam phủ thục mịnh di cúng hoán số (cúng Nam tào Bắc đẩu để xin đổi số, phê cho số trường sinh) v.v.. Đối với ngày Tứ quý, người ta thường cúng khoa cúng Phật (nếu đền thờ vọng Phật), khoa cúng Mẫu, hoặc cúng chung cả hai khoa cúng trên gộp thành khoa cúng Phật-Mẫu. Nội dung khoa cúng có thể chia làm ba phần. Phần đầu để khai quang đàn tràng, dâng hương và nói lên ý nghĩa của buổi lễ. Phần giữa với mục đích để thỉnh chư Phật, chư Thánh theo thứ tự từ cao xuống thấp. Phần cuối mời chư Phật, chư Thánh an tọa, thụ hưởng và cuối cùng các vị thần trở lại nơi mình ngự trị.

    Múa Sái tịnh với ý nghĩa làm sạch sẽ đàn tràng là một hiện tượng văn hóa khá độc đáo trong khoa cúng Phật-Mẫu. Căn cứ vào sự xuất hiện múa Sái tịnh trong buổi lễ người ta có thể biết khoa cúng trong lễ Thượng Nguyên ở phủ Tây Hồ có quy mô đại cúng (chung cúng và tiểu cúng không có múa Sái tịnh). Người pháp chủ mặc áo cà sa năm điều, đội mũ thất Phật. Một tuần Sái tịnh gồm múa khai hoa, kết ấn, múa vòng thuận nghịch, thư chữ trong chén ngọc chản, cầm cành dương liễu vảy sái chữ tâm.

    Pháp chủ múa Sái tịnh trong khoa cúng Phật-Mẫu

    Trong khoa cúng, ngoài am hiểu khoa giáo, các thầy cúng cũng là những nhạc công thực sự. Mỗi thầy cúng đảm nhiệm ít nhất một nhạc cụ. Vị trí ngồi trong dây của họ bị chi phối bởi sự sắp xếp theo quy định của các nhạc cụ. Thông thường, pháp chủ sẽ đảm nhiệm một mõ, một chuông. Người đầu dây tả đảm nhiệm trống canh, người thứ hai chơi trống cái, người thứ ba gõ thanh la. Người đầu dây hữu chơi tiu cảnh, người thứ hai xóc đôi nạo và người thứ ba gõ bạt. Trong buổi lễ Thượng Nguyên ở phủ Tây Hồ do số người bị hạn chế nên biên chế nhạc cụ có thay đổi. Người đầu dây tả đảm nhiệm trống cái và trống đế, người thứ hai đánh trống canh. Người đầu dây hữu đảm nhiệm tiu cảnh vừa kiêm đánh thanh la, người thứ hai xóc nạo. 

     

    BAN THỜ

     

    Dây hữu
    <Pháp chủ
    Dây tả
    Hoàng Trọng Kha (1922)
    Nguyễn Hà Cân (1976)
    Hồng Văn Chén (1952
    <01 tiu, 01 cảnh, 01 thanh la
    01 chuông, 01 mõ
    01 trống cái, 01 trống đế
    Nguyễn Việt Hà (1985)

    <

    Nguyễn Văn Tuất (1933)
    01 nạo

     

    01 trống canh

    Nội dung khoa cúng được chuyển tải bằng bốn hình thức xướng chính đó là: bạch, tụng, kệ, canh. Bạch không có giai điệu như canh, không ngân nga ở cuối câu như kệ, cũng không có nhạc cụ đệm theo, chỉ được điểm bằng tiếng chuông khi hết đoạn. Chu kỳ mỗi câu bạch thường là 4 từ. Tụng thì như đọc, dùng tiếng mõ gõ theo nhịp trường canh và đôi khi điểm thêm tiếng trống. Kệ là lối xướng có ngân nga ở cuối câu. Kệ không có nhạc cụ đệm theo chỉ điểm tiếng mõ hoặc tiếng chuông ở cuối câu. Thường mỗi câu kệ có 7 chữ. Canh còn gọi là tán canh là lối diễn xướng theo giai điệu và có nhạc cụ gõ đệm theo. Trong khoa cúng Phật-Mẫu tại lễ Thượng Nguyên ở phủ Tây Hồ có kệ Cam lộ thủy, kệ Giới hương, kệ Vân lai tập, canh Lô hương, canh Thanh lương địa, canh Hương cúng giàng, canh Vân lai tập.
    Nghi thức tiếp theo của buổi lễ đó là Tụng kinh. Thông thường, kinh do một thầy cúng vừa tụng vừa gõ mõ, điểm chuông. Trong buổi lễ Thượng Nguyên ở phủ Tây Hồ lại được các thầy cúng đồng thanh tụng bản kinh Cứu khổ. Đây là bản kinh ngắn nên dễ thuộc. Nội dung kinh Cứu khổ để cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đến cứu giúp khi gặp tai nạn hiểm nghèo. Ngoài bản kinh này, ở một số đền khác trong ngày Tứ quý mà chúng tôi có dịp tham dự, người ta còn tụng kinh Dược sư hoặc kinh Phả môn. Kinh Dược sư phổ biến hơn với mục đích cầu duyên thọ hoặc chữa bệnh. Kinh Phả môn để cầu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho hai chữ bình an.
    Nếu hai nghi thức đầu của buổi lễ Khoa cúng và Tụng kinh diễn ra bên trong phủ chính thì Cúng chúng sinh lại được tổ chức ngoài sân phủ, hướng ra mặt nước Tây Hồ. Người ta quan niệm rằng dù cúng Phật hay cúng Mẫu cũng phải cúng chúng sinh bởi các cô hồn nghe thấy tiếng chuông, tiếng trống sẽ kéo về. Cúng chúng sinh là cúng các cô hồn. Trong pháp giới lục đạo, chúng sinh là những hồn người không có nơi nương tựa, ma đói ma khát. Pháp giới lục đạo gồm: thiên đạo, nhân đạo, a tu la đạo (cõi quỷ), địa ngục đạo, ngã quỷ, súc sinh. Thông thường, lễ vật của cúng chúng sinh gồm cháo, bỏng, khoai, sắn, mâm quần áo chúng sinh. Lễ vật tối thiểu “Thất lạp tứ thập phương”, nghĩa là 7 hạt cơm hoặc 7 hạt gạo cho vào nước.

    Hát văn thờ là nghi thức cuối cùng của buổi lễ cũng là hình thức cúng bái đặc sắc riêng của tín ngưỡng Tứ phủ, một sáng tạo đầy chất nghệ thuật của người Việt nhằm chuyển tải lời cúng bằng âm nhạc. Có dịp tới lễ phủ Tây Hồ vào ngày Tiệc (mùng 3 tháng 3 năm Đinh Hợi -2007), chúng tôi từng được chứng kiến Hát văn thờ diễn ra tại tòa Tiền tế trước ban Cung đồng, nhưng buổi lễ Thượng Nguyên năm nay do khách hành hương tới quá đông, nên các cung văn chuyển vào Hậu cung để có thể thành kính dâng lên thần thánh những câu hát hay nhất. Vậy là chúng tôi có dịp được vào cung cấm của Mẫu Liễu Hạnh, thành tâm cầu khẩn và cũng được chiêm ngưỡng dung nhan cá nhảy nhạn sa của vị Thánh Mẫu lừng lẫy khắp Nam Việt.

    Khung cảnh ngoài sân phủ Tây Hồ trong lễ Thượng Nguyên<

    Sinh hoạt trong môi trường tín ngưỡng Tứ phủ, Hát văn có ba hình thức chính đó là Hát văn thờ (hát vào những buổi lễ trang trọng của tín ngưỡng), Hát văn hầu (phục vụ cho nghi lễ hầu bóng) và Hát văn thi (tuyển lựa những cung văn giỏi giữa các đền trong từng khu vực). Nếu Hát văn hầu được diễn ra vào nhiều thời điểm trong năm thì thời gian tổ chức Hát văn thờ khá khiêm nhường như vào ngày Tiệc (ngày quy hóa) của vị Thánh mà bản đền thờ phụng, vào ngày Tứ quý (bốn vấn chính đánh mốc thời gian quan trọng của một năm), hoặc trong những buổi hầu bóng của quy mô lớn.

    Vào ngày Tiệc, bản đền thờ phụng vị Thánh nào sẽ Hát văn thờ bản văn về sự tích vị thánh đó như văn “Địa tiên Thánh Mẫu”, “Cảnh thư đường”, hoặc “Bóng giăng loan” thờ Mẫu Liễu Hạnh tại phủ Dầy (Nam Định), phủ Tây Hồ (Hà Nội) và những nơi thờ vọng; bản văn “Quốc sử ký” thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo tại đền nhà Trần (Nam Định), đền Kiếp Bạc (Hải Dương) và những nơi thờ vọng; văn “Mẫu Thoải” thờ Mẫu đệ tam, văn “Hương tứ đức” thờ Tứ vị Hồng Nương tại đền Cờn (Thanh Hóa), văn “Nhị vị Bồ tát đền Ninh Xá” thờ Nhị vị Bồ tát tại đền Ninh Xá (Hà Tây) v.v.. 

    Vào ngày Tứ quý hay trong những buổi hầu đồng trịnh trọng, cung văn không hát bản văn sự tích mà dâng bản văn “Công đồng”. Đây là bản văn dùng chung tại các đền. Tại phủ Tây Hồ, vào ngày Tiệc của Mẫu Liễu Hạnh (mùng 3 tháng 3 âm lịch), người ta Hát văn thờ bản “Cảnh thư đường” thì trong lễ Thượng Nguyên đầu Xuân Mậu Tý là bản văn “Công đồng”. Nội dung bản văn để thỉnh mời toàn bộ chư Phật, chư Thánh theo các cấp bậc từ cao tới thấp về chứng dám cho buổi lễ:
    - Thỉnh mời chư Phật 
    - Thỉnh mời Ngọc Hoàng (vua của Thiên phủ)
    - Thỉnh mời Ngũ nhạc thần vương (năm vị vua của Nhạc phủ)
    - Thỉnh mời Địa phủ thập điện minh vương (mười vị vua của Địa phủ)
    - Thỉnh mời Bát hải Long vương (vua của Thoải phủ)
    - Thỉnh mời Nam tào, Bắc đẩu (chua sổ trường sinh)
    - Thỉnh mời hội công đồng tứ phủ vạn linh
    - Thỉnh mời tứ vị Thánh Mẫu (Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thoải phủ, Mẫu Địa phủ)
    - Thỉnh mời năm quan hoàng tử
    - Thỉnh mời thập nhị niên vương
    - Thỉnh mời thành hoàng
    - Thỉnh mời tứ phủ khâm sai (chầu)
    - Thỉnh mời tam thập lục cung thần nữ (các cung tiên)
    - Thỉnh mời bát bộ sơn trang
    - Thỉnh mời quan hoàng, quan quận, tiên nương
    - Nguyện vọng của đệ tử: nguyện cầu phù hộ.

    Phần lời ca bản “Công đồng” được chuyển tải qua 7 làn điệu chủ chốt của Hát văn thờ đó là: Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Dồn. Trong đó, ba điệu mở đầu Bỉ, Miễu, Thổng là những làn điệu lề lối chỉ sử dụng trong Hát văn thờ mà không dùng trong Hát văn hầu. Các điệu Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói nằm trong hệ thống làn điệu Phú mang tính chất uy nghi, đĩnh đạc (cũng có mặt trong các bản văn hầu thuộc giá nam thần). Dồn là làn điệu cuối cùng không thể thiếu trong một bản văn thờ. Theo nghệ nhân giải thích, điệu Dồn xuất phát từ điệu Phú Nói. Nếu Phú Nói hát nhấn nhá từng chữ thì Dồn cũng theo nhịp ba nhưng hát gấp và cuốn lên. Sự góp mặt của điệu Dồn đưa tới một đặc điểm của âm nhạc Hát văn thờ nói riêng, Hát văn nói chung đó là vào đầu hát chậm, sau nhanh dần và cuối cùng thì mau, dục dã để kết. Bản văn “Công đồng” được thể hiện qua ba loại dịp chính đó là:dịp dồn phách ở làn điệu Bỉ (không theo chu kỳ tiết tấu, khi câu hát dừng hay trong đoạn lưu không là lúc người ta vê dùi trên phách), dịp đôi ở điệu Miễu (trong chu kỳ 4 phách có 2 tiếng rơi trên cảnh), dịp ba ở điệu Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói (trong chu kỳ 4 phách có 3 tiếng rơi trên cảnh). Đàn nguyệt lên dây theo hai lối chính đó là dây lệch (dây quãng 4) và dây bằng (dây quãng 5). Trong đó, dây lệch được dùng khi hát các làn điệu Bỉ, Miễu, còn dây bằng với các làn điệu Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Dồn.

    Dàn nhạc Hát văn thờ khá khiêm tốn với các nhạc cụ như đàn nguyệt đảm nhiệm phần giai điệu, một số nhạc cụ gõ như trống ban, cảnh, phách, trống cái. Không sử dụng thanh la trong thành phần nhạc cụ là điểm khác biệt giữa Hát văn thờ và Hát văn hầu. Tại buổi lễ Thượng Nguyên ở phủ Tây Hồ, dàn nhạc được bổ sung cây sáo (làm phong phú thêm cho giai điệu) và trống đế (thay cho trống cái vì không gian thờ cúng khá nhỏ).

    Hát văn thờ bản “Công đồng” tại Hậu cung phủ Tây Hồ. Cung văn Nguyễn Văn Tuất (1933) vừa hát vừa đánh đàn nguyệt; cung văn Hà Vinh (1957) thổi sáo, cung văn Nguyễn Việt Hà (1985) đánh trống đế; cung văn Hoàng Trọng Kha (1922) vừa hát vừa đánh phách, cảnh, trống ban

    Hát văn thờ là nghi thức cuối cùng của buổi lễ Thượng Nguyên. Dù diễn ra trong tòa Hậu cung nhưng tiếng hát của các cung văn phụng thờ lên Thánh vẫn vọng ra tới ngoài sân phủ nhờ hệ thống loa phóng thanh. Vậy là khách hành hương từ nhiều nơi tới phủ cũng có thể cảm thụ những áng văn thơ dâng lên Thánh trong ngày lễ, có thể hiểu hơn về một loại hình nghệ thuật âm nhạc đặc sắc của tín ngưỡng Tứ phủ. Sang tới những năm đầu thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, Hát văn hầu gắn với nghi lễ hầu bóng rất được ưa chuộng tại các đền, đẩy Hát văn thờ vào hậu trường và đánh dấu sự ra đi của Hát văn thi. Tại Hà Nội, Hát văn thờ chỉ còn được diễn ra tại phủ Tây Hồ và đền Dâu ở phố Hàng Quạt là những nơi mà người quản lý luôn tôn trọng vốn cổ. Ngoài ra, nhiều cung văn hiện nay coi Hát văn là nghề kiếm sống, họ chỉ học một số làn điệu để phục vụ hầu bóng. Số người có thể hát một bản văn sự tích, am hiểu khoa cúng chỉ còn có thể đếm trên đầu ngón tay. Đó là những dấu hiệu đáng báo động của Hát văn thờ, có nguy cơ bị thất truyền. Bởi vậy, đi lễ Thượng Nguyên ở phủ Tây Hồ vào đầu Xuân Mậu Tý, chúng tôi không chỉ cảm thấy trong lòng thanh thản mà còn dấy lên niềm vui, niềm hy vọng khi chứng kiến những mái đầu bạc trắng đang hành lễ cùng những mái đầu còn xanh. Những người trẻ tuổi ở đây đang cố gắng học một cách có bài bản từ những người đi trước để có thể trở thành thầy cung văn: tường tận khoa cúng, thành thục không chỉ Hát văn hầu mà cả Hát văn thờ. Họ chính là những hạt nhân tích cực đang góp phần gìn giữ Hát văn thờ - một di sản âm nhạc mà cha ông truyền lại giữa lòng thủ đô nghìn năm văn hiến.







    Ý kiến của bạn






    Danh sách ý kiến
    Phạm Lê Tường   (letuong_pham8888@yahoo.com.vn)
    Nhận xét : Một ngày nào đó môn nghệ thuật hát văn ,Nghệ thuật tâm linh được giàn dựng thành vở diễn ca ngợi các Anh hùng dân tộc thì hay biết mấy ,đó cũng là ước nguyện của cha tôi Nghệ nhân sáng tác và đàn hát chầu văn trước lúc qua đời.Cảm ơn các Bác các Chú Anh em nghệ sĩ đã gìn giỡ môn nghệ thuật này.Các vốn cổ ngày nay thất lac dần các bạn trẻ nên cố gắng học hỏi các bậc tiền bối ,các tài liệu về hát văn cũng không nhiều chúng ta cùng trao đổi để gìn giữ được dài lâu
    17/02/2014

    Tin bài cùng loại


    |mantico|

    • Yahoo :

       

      Phone : 0926919990

     

    Quảng cáo