• Sơ lược quá trình phát triển Chầu văn và nghi lễ Hầu đồng  

    Trích bài viết Lê Y Linh 


    Chúng ta có thể chắc chắn một điều là nghi lễ hầu đồng đã trải qua các giai đoạn sau : hóa thân từ một nghi lễ gọi hồn từ khởi thủy chuyển sang hầu bóng ở nông thôn, hóa thân trong giai đoạn di cư sang thành thị phát triển song song và trở thành nghi lễ hầu bóng vào đầu những năm mười năm . Vì lý do cấm đoán bộ mặt này mai một dần cho đến cuối năm tám mươi. Thầy cho tôi một số tư liệu trong giai đoạn này

    Giai đoạn hóa thân từ nông thông ra thành thị có thể xẩy ra vào thời kỳ đô thị hóa Hà nội trong thời Pháp thuộc vào cuối thế kỷ XIX . Việc nghi lễ di cư ra thành thị và hóa thân kéo theo cả việc phát triển điện thần phát triển âm nhạc thêm thắt trang phục và nghi lễ để đạt tới thời phồn thịnh đầu năm năm mươi . Sự xuất hiện đàn nguyệt cũng như sự củng cố vai trò của nó trong hát văn , sự thêm bài bản âm nhạc cùng với sự xuất hiện của các vị Thánh mới trong điện thần có lẽ cũng diễn ra trong giai đoạn này . Đỉnh cao của giai đoạn đó là những năm ba mươi , bốn mươi của thế kỷ trước mà các thầy kể lại trong các cuộc thi văn . Chính trong giai đoạn này cung văn sáng tác văn thờ , lưu lại văn bằng viết , đặt ra một hệ thống điện thần bản địa cùng chung sống với các vị có danh giá cao sang để chứng tỏ mức độ bác học của nghệ thuật hát văn và nghi lễ đồng bóng .

    Phương pháp sáng tác thơ và phổ làn điệu vào để hát thờ và hát hầu là động cơ chủ đạo cho việc hình thành một hệ thống nghi lễ và âm nhạc của hát văn , trải qua giai đoạn biến thể và hình thành một nhân cách mới của tín ngưỡng hầu bóng. Nhờ phương pháp này mà điện thần luôn được đổi mới và nhiều vị Thánh hơn , có nhiều con nhang đệ tử và làm cho tín ngưỡng ngày một thịnh hành hơn khi nào hết . Văn thờ , mặc dù dùng nhiều chữ nho và chữ cổ , và việc cung văn dâng lễ âm nhạc cho tứ phủ là một hiện tượng tương đối mới thế kỷ XX . Cũng nhờ chữ viết mà các thầy ghi lại những gì không phải dùng hàng ngày mà để dùng trong các việc đặc biệt

    Nhờ việc lưu giữ văn thờ , sự phát triển nghi lễ hầu bóng và hát chầu văn được phong phú hơn nhiều . Một mặt cung văn sáng tác bài mới lưu truyền thánh tích , vì thánh có các bản văn nên dần quen thuộc hơn với con nhang đệ tử ,tạo thành nên tảng điện thần và nghi lễ hầu bóng . Mặt khác , tính cách mở của nghi lễ cho phép sự xuất hiện các vị thánh mới gần gũi với con nhang đệ tử từng nơi .

    Từ năm 1954-1990 , các cung văn không còn thi nữa , thầy Kiêm bảo tồn sáng tác thêm một số bản văn , để truyền thống hát văn không bị mai một . Như đã nói ở trên , nếu cung văn biết hát lề lối giỏi , họ có thể ứng tác , nhưng nếu họ không biết lề lối hoặc biết ít , lúc ứng tác không ai nhận ra đâu là phần khuân đâu là phần mở nữa .

    Sau thời mở của đầu năm 90 , việc lễ bái phát triển rất nhanh , tín ngưỡng đã trải qua một giai đoạn hóa thân . Điều đáng tiếc này khó có thể tránh khỏi trong một xã hội trên đường tái cấu trúc . Văn và hát theo lề lối cổ không còn nhiều nữa , nhưng vì các đền cần cung văn , rất nhiều người quay sang học hát văn gấp rút vđể đi hát mà không có tư liệu cơ bản để trau dồi học phần khuôn và nguyên tắc mở . Ta phải thừa nhận một thực tế giữa hát văn cổ và hát mới đã bị đứt một thế hệ cung văn . Cả lối hầu cũng vậy, các đồng cựu đã bị các thế hệ trẻ vượt xa như tron những miêu tả về nghi lễ âm nhạc trong một số công trình gần đây


    Diễn Đàn Hát Văn Việt Nam : www.hatvan.vn







    Ý kiến của bạn






    Tin bài cùng loại


    |mantico|

    • Yahoo :

       

      Phone : 0926919990

     

    Quảng cáo